Nhận thức của Đảng về thời kỳ quá độ lên CNXH qua tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

09:18 | 06/06/2024

(Bqp.vn) - Lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) là một bộ phận cấu thành quan trọng của lý luận về CNXH. Xét trên phương diện phân kỳ lịch sử, thời kỳ quá độ lên CNXH là thời kỳ đầu tiên bắt tay vào xây dựng xã hội mới - một xã hội tiến bộ hơn, khác về bản chất so với các xã hội trước đó. Trên cơ sở những chỉ dẫn kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH và thời kỳ quá độ lên CNXH, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quán triệt và vận dụng trong từng giai đoạn phát triển của đất nước, đạt nhiều thành tựu quan trọng, song bên cạnh đó, do những hạn chế lịch sử, cũng còn những mặt chưa thành công, những vấn đề thực tiễn chưa được làm sáng tỏ. Trong thời kỳ đổi mới, nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng rõ hơn, lý luận về đường lối đổi mới đất nước ngày càng hoàn thiện và được hiện thực hóa. Tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là công trình lý luận hệ thống hóa sự phát triển nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về CNXH và thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam, cho thấy sự quan tâm đặc biệt của người đứng đầu Đảng ta về vấn đề này.

Về tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên CNXH, Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh… Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: CNXH là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên CNXH là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam” [1]. Điều này thể hiện sự nhất quán trong nhận thức tư tưởng của Đảng ta về thời kỳ quá độ. Tuy nhiên, nói “tất yếu” không có nghĩa cứ qua thời gian là tự nó sẽ đến mà phải bằng ý chí quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, hành động cách mạng với một tinh thần bền bỉ và không ngừng sáng tạo. Sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) thế giới vào cuối thế kỷ XX; các biểu hiện chủ quan, duy ý chí, nóng vội dẫn đến kết quả không như mong đợi trong quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới ở nhiều nước XHCN trước đây; sự chống phá quyết liệt, không ngừng nghỉ của các thế lực thù địch đối với CNXH… cho thấy khát vọng vươn tới phồn vinh, hạnh phúc và con đường phát triển đi lên của nhân loại (trong đó có Việt Nam) không hề dễ dàng, bằng phẳng.

Tổng Bí thư viết: “Trước đây, khi còn Liên Xô và hệ thống các nước XHCN thế giới thì vấn đề đi lên CNXH ở Việt Nam dường như không có gì phải bàn, nó mặc nhiên coi như đã được khẳng định. Nhưng từ sau khi… cách mạng thế giới lâm vào thoái trào, thì vấn đề đi lên CNXH lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt” [2]. Đáng mừng là, chính trong giai đoạn CNXH đứng trước thử thách nghiệt ngã đó, Đảng ta, với tư duy khoa học và bản lĩnh cách mạng, đã dứt khoát khẳng định: “Kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin là vấn đề có tính nguyên tắc số một đối với Đảng ta” [3]; đồng thời xây dựng, bổ sung, phát triển “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH” làm nền tảng lý luận trực tiếp soi sáng con đường đi lên CNXH của đất nước ta.

Đến nay, qua gần 40 năm đổi mới, mặc dù vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, nhưng Tổng Bí thư khẳng định: “Chúng ta đã hình thành được nhận thức tổng quát: Xã hội XHCN mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới” [4]. Đây là những đặc trưng của CNXH ở Việt Nam, đồng thời cũng là những mục tiêu chúng ta phấn đấu trong suốt thời kỳ quá độ.

Để đi tới mục tiêu đó, phải xác định được lộ trình, bước đi phù hợp với đặc điểm, điều kiện thực tế của đất nước. Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về hình thức, chặng đường của thời kỳ quá độ, căn cứ vào thực tế, Đảng ta khi tiến hành đổi mới đã xác định nội dung chặng đường đầu là: Thông qua đổi mới toàn diện, xã hội đạt tới trạng thái ổn định vững chắc, tạo thế phát triển nhanh ở chặng sau [5]; chặng đường thứ hai là: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu đến năm 2025 nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đồng thời, định hướng chặng đường tiếp theo thông qua xác định mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng XHCN [6].

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: “Càng đi vào chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta càng nhận thức được rằng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội” [7]. Việt Nam thực hiện hình thức quá độ gián tiếp, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa nên thời gian sẽ dài hơn, khó khăn, thử thách sẽ lớn hơn. Tính chất khó khăn, phức tạp của thời kỳ quá độ được Tổng Bí thư chỉ ra là: “Việt Nam đi lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại” [8]. Bên cạnh đó, việc khắc phục những thiếu sót, hạn chế từ mô hình tổ chức xã hội XHCN trước đây cũng cần có quyết tâm và thời gian, không thể nóng vội. Vả lại, thực tế cũng cho thấy con đường đi lên CNXH của nước ta luôn mang đặc điểm riêng, đòi hỏi phải nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, không ngừng tìm tòi, đổi mới và sáng tạo; nó không bao giờ tương dung với sự giáo điều, sao chép, rập khuôn máy móc. Những khó khăn nói trên cũng chính là những yếu tố góp phần định hình những mâu thuẫn cần giải quyết trong thời kỳ quá độ; trong đó, nhận diện một cách khái quát, mâu thuẫn cơ bản vẫn là mâu thuẫn giữa con đường đi lên CNXH với những yếu tố chống phá, cản trở quá trình hiện thực hóa con đường đó.

Để giải quyết mâu thuẫn, đồng chí Tổng Bí thư vạch rõ những phương hướng lớn trong phát triển kinh tế - xã hội: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ XHCN, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện” [9].

Đặc biệt, từ thực tiễn đổi mới đưa đất nước từng bước quá độ lên CNXH, Đảng ta đã đạt được nhiều đột phá lý luận quan trọng. Điển hình như: Đưa ra quan niệm “Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN”, đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử kinh tế thị trường, có đặc trưng cơ bản là “Gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển… Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng XHCN” [10]. Nhận thức rõ nhà nước pháp quyền XHCN về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản, ở chỗ nó “là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân… thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân” [11]. Không ngừng phát triển, hoàn thiện lý luận về Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, khẳng định “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam;… đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam,… lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên; thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ” [12], thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Từng bước phát triển, hoàn thiện luận điểm về sự gắn kết chặt chẽ các nhiệm vụ chính trị: “Phát triển kinh tế là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên” [13], coi đó là bộ trụ cột quan trọng bảo đảm cho phát triển bền vững đất nước. Trên cơ sở đổi mới nhận thức về tình hình thế giới và khu vực, chúng ta đã chuyển cách nhìn thế giới trước đây chỉ dưới góc độ một vũ đài đấu tranh sang cách nhìn toàn diện hơn, coi thế giới như môi trường tồn tại và phát triển của Việt Nam, đề ra và thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi;...

Đồng chí Tổng Bí thư cho rằng, “Để đi lên theo định hướng XHCN là một quá trình không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố XHCN để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng” [14]. Muốn làm được như vậy, cần nhận thức rõ tính chất khó khăn, phức tạp trong từng chặng đường của thời kỳ quá độ; hiểu rõ các nhân tố XHCN được hình thành, xác lập, phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi XHCN như thế nào; phải lường trước những tác động tiêu cực và chủ động đương đầu những thách thức, tỉnh táo xử lý một cách kịp thời, hiệu quả.

Nhận thức rõ tính chất khó khăn, phức tạp của thời kỳ quá độ cũng đồng nghĩa với việc chúng ta phải đấu tranh khắc phục triệt để những nhận thức mang tính phiến diện, chủ quan như: Đồng nhất mục tiêu lý tưởng với mục tiêu, nhiệm vụ trước mắt, nôn nóng muốn áp đặt mục tiêu xa cho thực tại; chỉ nhấn một chiều quan hệ sản xuất mà không chú ý đúng mức phát triển lực lượng sản xuất; đồng nhất kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền với chủ nghĩa tư bản;… Từ đó, đối lập một cách siêu hình, cực đoan giữa CNXH với chủ nghĩa tư bản, phủ nhận sạch trơn sản xuất hàng hóa, cơ chế thị trường, kinh tế tư nhân; không phân biệt rõ chủ nghĩa tư bản với những thành tựu nhân loại đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản; khi gặp khó khăn, vấp váp, không thành công trong hoạt động thực tiễn thì rơi vào bi quan, dao động, giảm sút niềm tin, ý chí phấn đấu; chùn bước trước khó khăn, thử thách; hoang mang, mất phương hướng trước luận điệu xuyên tạc, công kích của các thế lực thù địch và có thể dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”;...

Tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư là sự khái quát quá trình phát triển nhận thức và tư duy lý luận của Đảng về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam với những luận chứng chặt chẽ, hàm ý sâu xa, đậm chất thực tiễn và tinh thần đổi mới sáng tạo, cần được tiếp tục nghiên cứu, quán triệt, thấm nhuần sâu sắc để cùng nhau hành động thống nhất, hiệu quả, góp phần từng bước hiện thực hóa con đường đi lên CNXH ở nước ta.

[1], [2], [4], [7], [8], [9], [10], [11], [12], [13], [14]. Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, Nxb CTQGST, Hà Nội, 2022, tr.22, 18, 24, 25, 25, 24-25, 27, 29, 29-30, 13, 35.

[6]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb CTQGST, Hà Nội, 2021, tr.36.

[3], [5]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1991, tr.127, 155.

File đính kèm:

Đại tá, PGS, TS Nguyễn Trường Sơn, Học viện Lục quân

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ QUỐC PHÒNG NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Địa chỉ: Số 7, Nguyễn Tri Phương, Ba Đình, Hà Nội
*Tel: +84-69.553215 * Email: info@mod.gov.vn
Website: bqp.vn, mod.gov.vn *
Tổng Biên tập: Đại tá Nguyễn Thanh Bình
Quyết định cho phép hoạt động: 3548/QÐ-BQP, ngày 25/9/2012
® Ghi rõ nguồn bqp.vn hoặc mod.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ Cổng TTÐT BQP.